“Vận động giảm lãi suất” bằng “Củ cà rốt và cây gậy” trong chính sách tiền tệ?

(26/07 20:58)

Từ giữa tháng 7 có 2 sự kiện được giới ngân hàng (NH) Việt Nam quan tâm. Thứ nhất, Phó Thống đốc NHNN ông Đào Minh Tú giao Hiệp hội NH Việt Nam (VNBA) vận động sự đồng thuận của các tổ chức tín dụng (TCTD) để giảm lãi suất với những mức cụ thể ngay trong tháng 7. Thứ hai, NHNN có văn bản về việc nới hạn mức tăng trưởng tín dụng của các NH từ 8,5% lên 12,1%, hoặc từ 10,5% lên 15%, tùy từng NH. 

 

Ảnh minh họa.

Ảnh minh họa.

Room tín dụng
 
Một vài người làm trong NH lâu năm nhận xét chính sách tiền tệ “vận động giảm lãi suất” có thể thực hiện được, vì các NH vẫn muốn được sự hỗ trợ về mặt chính sách trong cấp hạn mức tăng trưởng tín dụng, cũng như việc cấp phép cho các loại sản phẩm dịch vụ mới sau này.
 
Vì vậy, không có gì lạ khi các TCTD đồng thuận để giảm lãi suất ngay trong tháng 7. Hạn mức tín dụng có thể được xem như củ cà rốt, nhưng cũng là cây gậy để điều tiết hành vi của các TCTD trong “chính sách tiền tệ đồng thuận”. 
Trong cách làm chính sách này, thay vì dùng những công cụ kỹ thuật của thị trường, NHNN sử dụng công cụ có tính “chính trị”, đó là mối quan hệ tốt đẹp với NHNN. Nếu TCTD “hỗ trợ” NHNN trong thực thi chính sách, đổi lại những lợi ích mềm về hạn mức tín dụng, đánh giá xếp loại NH hay thí điểm triển khai dịch vụ mới có thể thương lượng.
 
Trong thị trường tài chính Việt Nam, mối quan hệ cây gậy và củ cà rốt chính sách này luôn được thể hiện ở nhiều thời điểm trong quá khứ. Tuy nhiên, trong thời điểm hiện tại, xuất hiện 2 vấn đề.
 
Thứ nhất, các TCTD vẫn phải đảm bảo an toàn vốn, cơ cấu nợ theo Thông tư 03 đồng thời với giảm lãi suất. Nếu thực hiện cùng lúc các mặt này một cách thực chất, các TCTD sẽ khó duy trì được tăng trưởng lợi nhuận ấn tượng như hiện nay. Thứ hai, là câu hỏi ai sẽ được vay lãi suất rẻ? 

Cơ cấu nợ, Thông tư 03 và an toàn vốn
 
Vấn đề giới đầu tư ngành NH quan tâm thời gian qua là tính bất định của con số hàng trăm ngàn tỷ đồng nợ cơ cấu theo Thông tư 03. Với sự bùng phát làn sóng thứ tư đại dịch Covid-19, con số tín dụng bị ảnh hưởng có lẽ đã tăng thêm. Bao nhiêu trong số đó chưa được phân loại và trích lập dự phòng rủi ro hợp lý? Theo Thông tư 03, các NH sẽ cần trích lập dần trong vòng 3 năm với tỷ lệ phân bổ 30% trong năm 2021.
Ngoài ra, việc thực hiện miễn, giảm lãi, phí cho khách hàng chỉ thực hiện đến ngày 31-12-2021, tức chỉ còn 5 tháng nữa, trong khi nhiều khả năng các khách hàng doanh nghiệp sẽ còn cần được hỗ trợ thêm sang cả năm sau trong việc cơ cấu nợ, miễn và giảm lãi. Diễn biến bất ngờ của dịch bệnh lần này có thể khiến Thông tư 03 rơi vào trạng thái “việt vị”. 
 
Vì vậy, đã có những đề xuất là cần sửa Thông tư 03 thêm lần nữa. Nhưng nếu vậy sẽ lại tiếp tục “đá quả bóng trích lập dự phòng nợ xấu một cách đúng và đầy đủ về tương lai”. Và các NH quản trị không tốt cứ vậy mà “làm liều”, vì cứ dịch bệnh sẽ sửa thông tư, cho phép cơ cấu lại nợ, trì hoãn trích lập dự phòng.
 
Điều này đi ngược với phương pháp quản lý NH hiện đại là phải đảm bảo đủ an toàn vốn và trích lập dự phòng đầy đủ để tạo vùng đệm an toàn với những rủi ro vỡ nợ tín dụng trên diện rộng và có tính hệ thống. Với các NH ít thận trọng hơn, rủi ro thanh khoản và mất ổn định hệ thống có thể sẽ diễn ra nếu họ không có của để dành đầy đủ cho đợt diễn biến phức tạp nữa của dịch Covid-19, thậm chí nếu điều đó dẫn đến cuộc khủng hoảng tín dụng ở các thị trường mới nổi. 
 
Những vụ vỡ nợ đang diễn ra trên thị trường trái phiếu và tín dụng cho các chính quyền địa phương ở Trung Quốc, đang là lời cảnh báo cho những quốc gia khác. Chúng ta tuyệt đối không nên xem nhẹ những rủi ro này và bị huyễn hoặc trong cách nói dân gian là “tiền nhiều quá để làm gì”. Tiền nhiều nhưng giá trị các khoản nợ đang xin tái cơ cấu còn nhiều hơn số tiền mặt ngoài thị trường gấp mấy lần.
 
Nói cách khác, chúng ta có thể đang bị che mắt bởi sự dư dả thanh khoản giả tạo của nền kinh tế vì tiến trình giãn, giảm và cơ cấu nợ theo Thông tư 01 và 03. 
 
Bài học cải tổ thị trường tài chính của Trung Quốc gần đây được tổ chức xếp hạng tín nhiệm Fitch nhận xét là bắt buộc phải làm dù nó làm tăng rủi ro vỡ nợ của các “sân sau” tài chính các chính quyền địa phương, bởi Trung Quốc không thể tiếp tục đá quả bóng rủi ro vỡ nợ này vào tương lai mãi được.
 
Trung Quốc đang đi qua giai đoạn cải tổ đau đớn của thị trường tài chính mà Việt Nam muốn tránh. Nó là hệ quả của việc trì hoãn đảm bảo kỷ luật tài chính và cải tổ thị trường trong những năm trước Covid, để rủi ro tăng mạnh trong hệ thống. Covid-19 chỉ kích nổ những quả bom trong lòng hệ thống tài chính của Trung Quốc mà thôi.
 
Lãi suất cho vay giảm, ai được vay?
 
Đồng thời với nới room tín dụng, nhiều NH cũng công bố giảm lãi suất theo khuyến nghị của NHNN. Phần lớn các NH này đều giảm ít nhất 1%/năm cho tổng dư nợ hiện hữu của khách hàng tại thời điểm 15-7 đến hết năm 2021. Vậy ai sẽ được vay? Năm ngoái nhiều NH đã giảm lãi vay sau khi được tăng hạn mức tín dụng.
 
Nhưng nếu tìm hiểu kỹ lại, những vụ giảm lãi vay lớn nhất đã chiếm phần lớn khoản giảm lãi của các NH. Chẳng hạn, các khoản cơ cấu nợ và tăng cho vay với lãi suất gần như cho không với Vietnam Airlines. Nếu bỏ các khoản cho vay hỗ trợ của NH cho các ông lớn này, ai đang thực sự được giảm lãi suất?
 
Ông Phạm Thanh Hà, Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ, nhấn mạnh “Chúng tôi muốn thấy những con số hỗ trợ cụ thể để thị trường biết rằng các NH đã hỗ trợ cho những nhóm ngành nào, thậm chí khách hàng nào, để tất cả đều thấy rằng sự sẻ chia, sát cánh của hệ thống ngân hàng là nhanh chóng và thực chất”.
 
Nếu phần lớn doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ không thể vay được và vì vậy biến mất trên thị trường, trong khi các ông lớn được tiếp cận vốn có thể tồn tại, thậm chí thâu tóm những doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ này, chúng ta đang tạo ra rủi ro mà Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) đang cảnh báo. Đó là tình trạng “quá lớn để đổ vỡ” có thể sẽ trở nên trầm trọng hơn sau dịch Covid-19, khi những đại công ty trở thành những công ty khổng lồ.
Và nếu trong số đó có tỷ lệ đáng kể những công ty “nghiện” vay nợ và luôn cần được hỗ trợ tái cơ cấu nợ thì nguy to. 

Hồ Quốc Tuấn, Giảng viên Đại học Bristol, Anh

 

https://saigondautu.com.vn/tai-chinh/van-dong-giam-lai-suat-bang-cu-ca-rot-va-cay-gay-trong-chinh-sach-tien-te-94112.html
Tin cùng chuyên mục
Đề án góp phần cụ thể hóa mục tiêu giảm cường độ phát thải khí nhà kính trên GDP ít nhất 15% vào năm 2030 so với năm 2014, hướng tới mục tiêu phát thải ròng về “0” vào năm 2050...
Khi Chiến lược Hợp tác đầu tư nước ngoài giai đoạn 2021-2030 được Chính phủ chính thức ký ban hành, câu chuyện “tái định vị dòng vốn đầu tư” lại được đặt ra rõ ràng hơn bao giờ hết.
Theo Ngân hàng Nhà nước (NHNN), trong bối cảnh kinh tế vĩ mô gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là diễn biến phức tạp, khó lường của dịch Covid-19, đã và đang đặt ra thách thức rất lớn đối với việc kiểm soát nợ xấu và an toàn hoạt động NH trong thời gian tới. 
Tìm các nguồn hàng thay thế, hình thành chuỗi sản xuất khép kín để giảm các chi phí đến mức thấp nhất... là một số giải pháp được các nhà bán lẻ áp dụng nhằm giữ giá thành, hãm đà tăng giá của các mặt hàng nhu yếu phẩm, bảo vệ sức mua.
 Ngày 27-5, tại Hà Nội, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) tổ chức hội nghị trực tuyến toàn ngành. Hội nghị nhằm triển khai chương trình hỗ trợ lãi suất 2% từ nguồn ngân sách nhà nước 40.000 tỷ đồng theo Nghị định 31/2022/NĐ-CP của Chính phủ và Thông tư 03/2022/TT-NHNN của NHNN về vấn đề hỗ trợ lãi suất.
Ngày 11-5, tại Nhà Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) đã khai mạc phiên họp thứ 11 - phiên họp cuối cùng trước khi Quốc hội khai mạc kỳ họp thứ 3 (dự kiến diễn ra vào ngày 23-5 tới). 
Lạm phát kinh tế của Việt Nam có thể ở mức 4,5% trong năm nay và vượt qua ngưỡng 5% trong năm 2023.
Thị trường vàng trong nước giao dịch yếu ớt nhưng vẫn neo ở mức giá 70 triệu đồng/lượng. Đáng nói, dù mấy ngày nghỉ lễ vừa rồi, giá vàng thế giới giảm mạnh nhưng vàng SJC vẫn tăng và đang cao hơn vàng thế giới kỷ lục 17,8 triệu đồng/lượng.
Giá cá nguyên liệu tăng mạnh kéo giá cá tra phi-lê đông lạnh xuất khẩu trung bình cũng tăng, trong đó, giá xuất khẩu sang thị trường Mỹ cao nhất khi đạt hơn 4,5 USD/kg. Đây là mức giá cao hơn cả mức đỉnh của năm 2019.
Theo Sở KD-ĐT TPHCM, trong 4 tháng đầu năm 2022, tính chung cả vốn thu hút được dưới hình thức cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư và vốn thu hút được qua hình thức góp vốn, mua cổ phần, mua lại phần vốn góp của doanh nghiệp trong nước, Thành phố thu hút được 1,28 tỷ USD, tăng 12,18% tổng vốn đầu tư so với cùng kỳ. 
Dù môi trường kinh doanh ngày càng được cải thiện nhưng tình trạng tham nhũng vặt, phí bôi trơn khi thực hiện thủ tục hành chính vẫn là những vấn đề bức xúc của các doanh nghiệp (DN). Ở địa phương, tình trạng ưu ái cho DN “sân sau” vẫn nhức nhối.
Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Văn Thành vừa ký Quyết định số 493/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược xuất nhập khẩu hàng hóa đến năm 2030 với mục tiêu tốc độ tăng trưởng xuất khẩu hàng hóa bình quân 6 - 7%/năm trong thời kỳ 2021 - 2030.
Đóng góp cho đồ án quy hoạch chung TPHCM giai đoạn từ nay đến năm 2040, tầm nhìn năm 2060, những ý tưởng của PGS.TS Nguyễn Minh Hoà, chuyên gia đô thị học, xoay quanh hai vấn đề: Mô hình phát triển và mô hình quản lý hành chính.
Thu hút đầu tư là lĩnh vực đặc biệt quan trọng, đang được các tỉnh, thành phố ưu tiên hàng đầu trong chiến lược phát triển kinh tế, xã hội. Tuy nhiên, không phải tỉnh, thành phố nào cũng thành công và đón được doanh nghiệp trong và ngoài nước đến đầu tư.
 Quý I-2022 tăng trưởng tín dụng (TTTD) diễn biến đầy ngoạn mục. Trên bề nổi, cơ quan quản lý cho rằng điều này cho thấy sự hồi phục của nền kinh tế. Song bên trong, bài toán nắn dòng chảy tín dụng có vẻ đang được tích cực triển khai.
Ngày 16/3, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã ký Công điện số 252/CĐ-TTg về việc đôn đốc triển khai quyết liệt, hiệu quả Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế-xã hội.
Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Chí Dũng cho biết Việt Nam tiếp tục chính sách thu hút đầu tư có chọn lọc nguồn vốn FDI, đưa hoạt động đầu tư nước ngoài chuyển sang giai đoạn mới.
Tin từ Bộ Công Thương cho biết, trong tháng 2, Việt Nam đã nhập siêu tổng cộng 2,33 tỷ USD. Tính chung 2 tháng đầu năm 2022, cán cân thương mại hàng hóa cả nước ước tính nhập siêu 937 triệu USD. Trong khi cùng kỳ năm trước xuất siêu 1,6 tỷ USD.
Triển khai gói kích thích kinh tế, khó khăn chủ yếu tập trung ở phần về đầu tư công. Tiến độ cũng như công tác tổng hợp các dự án đầu tư công thuộc Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế-xã hội hiện nay có chậm hơn một chút do các bộ, ngành, địa phương có tiến độ thực hiện rất khác nhau, thường có sự chờ đợi lẫn nhau.
Lâu nay, khi nói về thành tích xuất nhập khẩu (XNK) thường được ngợi ca hết tầm. Nhưng thực tế XK chủ yếu từ khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), còn doanh nghiệp (DN) trong nước đa phần NK. Xem ra XNK nước ta phụ thuộc vào FDI - NK - thị trường nước ngoài.